The Voice – giá trị hay là tiền?!

Dạo quanh các diễn đàn phục vụ giải trí, từ khóa nhận được nhiều nhất là “The Voice” hay “Giọng hát Việt”. Có thể nói, ở Việt Nam, trước Giọng hát Việt chưa từng có chương trình truyền hình thực tế nào lại dấy lên nhiều ý kiến trái chiều và cả scandal đến thế. Bỏ qua những tranh luận rằng nên hát các ca khúc tiếng Anh hay tiếng Việt và cũng không bàn đến “tai tiếng” dàn xếp kết quả hay việc tăng chi phí quảng cáo một cách bất ngờ và “thái quá”, ở bài viết này chúng ta sẽ nhìn nhận “Giọng hát Việt” dưới một khía cạnh hoàn toàn khác.

Như chúng ta đã biết, ban giám khảo cũng như những người tổ chức chương trình này sẽ gánh trên vai áp lực nặng nề nhất. Họ không chỉ chịu sự giám sát đôi khi “khó tính” của dư luận mà quan trọng hơn nữa là được kiểm duyệt bởi Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch, cục Biểu diễn Nghệ thuật. Những cuộc họp báo với mục đích làm rõ vấn đề, xin lỗi khán giả hay những lần phải “giải trình” với các cấp có thẩm quyền là điều không thể tránh khỏi một khi “Giọng hát Việt” đã đi quá “giới hạn cho phép” của mình.

Trong khi đó, bên kia chiến tuyến lại là một lực lượng khán giả hùng hậu, những người đã “say đắm” chương trình này ngay từ những tập đầu tiên. Vào thời điểm đó, có lẽ khán giả là người hạnh phúc và nóng lòng nhất khi đón chờ những tập tiếp theo của chương trình. Tuy nhiên, niềm vui không kéo dài được lâu đã dẫn đến hạnh phúc không trọn vẹn như mong muốn. Khi những “sự cố” bắt đầu vỡ lỡ thì cũng là lúc lượng khán giả “trung thành” này cảm thấy mình không thật sự được tôn trọng hay thậm chí là bị coi thường. Những bài viết trên báo, những “bình loạn” trên các mạng xã hội hay diễn đàn mà họ theo dõi hằng ngày như một giọt nước làm tràn ly. Mặc dù không muốn, nhưng đến lúc này họ đành quay lưng lại với chương trình, bỏ ngoài tai những lời quảng cáo cho cuộc thi mà họ xem là “lố bịch”.

Như vậy, phải chăng cuộc thi là một sự thất bại. Câu trả lời có thể là đúng nếu xét trên bình diện văn hóa giải trí. Tuy nhiên, sẽ nhầm to nếu chúng ta nhìn nhận dưới góc độ kinh tế.

Đối tượng được lợi duy nhất từ chương trình này không ai khác chính là những người lợi dụng tên chương trình để tiếp thị cho những mục đích của mình. Họ là những người đăng các quảng cáo cho công ty, doanh nghiệp của mình tại các diễn đàn, website có dính dáng đến chương trình này hay các thời điểm chiếu “Giọng hát Việt”, họ còn là những người săn tin, viết bài mà nếu không có sự quan tâm của độc giả đối với “Giọng hát Việt” thì mục điểm tin văn hóa của họ cũng không tấp nập đến thế. Và cuối cùng là các doanh nghiệp tài trợ cho chương trình.

Những điều đáng tiếc của chương trình vô tình đã đẩy thương hiệu và doanh thu của các doanh nghiệp lên cao. Bởi lẽ, khách hàng xem “Giọng hát Việt” nhưng cũng đồng thời xem luôn các quảng cáo của họ, tiếp nhận những thông tin của sản phẩm một cách miễn cưỡng. Vì vậy, hóa ra câu chuyện “Giọng hát Việt” không bi thảm như chúng ta nghĩ.

Một sự việc đều có tính hai mặt của nó. Đứng trên cái nhìn của một người làm kinh tế, phải chăng chúng ta nên cảm ơn cuộc thi rất nhiều nhiều lần?

Cẩm Vân
S Communications
www.uehenter.com